Hát xẩm là loại hình diễn xướng dân gian độc đáo của người Việt Bắc Bộ, ra đời từ những người mù nghèo khổ lang thang hát rong mưu sinh dưới gốc đa, đầu chợ từ thế kỷ 14-15. Giữa dòng chảy văn hóa dân tộc, hát xẩm hiện lên như tiếng lòng chân chất của tầng lớp lao động, kết hợp kể chuyện tự sự bằng thơ ca dao với giai điệu da diết trên đàn nhị, sênh phách – một di sản nhân văn sống động đang được thế hệ trẻ hồi sinh. Cùng Loibaihathay.com tìm hiểu về về Hát xẩm là gì? Nguồn gốc là đặc điểm của hát xẩm
Hát xẩm là gì?
Hát xẩm là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống của Việt Nam, phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ và trung du miền núi phía Bắc. Hát xẩm ban đầu là hình thức mưu sinh của những người nghèo khổ, thường là người khiếm thị, lang thang hát rong trên đường phố, chợ búa và nơi đông người để kiếm sống. Nó gắn liền với nhóm xã hội đặc biệt, sử dụng tiếng đàn và giọng hát như công cụ sinh tồn, đồng thời thể hiện tài năng cá nhân trong môi trường văn hóa dân gian.

Hát xẩm là gì_Loibaihathay
Nguồn gốc và câu chuyện về hát xẩm
Truyền thuyết về hát xẩm
Truyền thuyết về nguồn gốc hát xẩm bắt nguồn từ thời nhà Trần, gắn với câu chuyện đầy bi kịch của Thái tử Trần Quốc Đĩnh, được coi là ông tổ nghề xẩm.
Theo truyền thuyết dân gian, vua Trần Thánh Tông có hai con trai là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Trần Quốc Toán vì tranh giành quyền lực đã hại em trai, khiến Trần Quốc Đĩnh bị mù lòa và bỏ lại trong rừng sâu.
Ông sống lang thang, dùng tiếng đàn và giọng hát để mưu sinh, sáng tạo ra điệu hát xẩm – một hình thức diễn xướng kết hợp kể chuyện và âm nhạc.
Câu chuyện mang tính nhân văn sâu sắc, phản ánh số phận bất hạnh của người khiếm thị nghèo khổ, nhưng không được sử dụng sách ghi chép vì không có hai hoàng tử này trong sử chính thống.
Thực tế, hát xẩm hình thành khoảng thế kỷ 14-15 từ hát rong của người mù ở Bắc Bộ, và truyền thuyết giúp bảo tồn giá trị văn hóa của loại hình này.
Hát xẩm là của tỉnh nào?
Hát xẩm không thuộc riêng một tỉnh cụ thể mà là di sản văn hóa dân gian chung của vùng đồng bằng Bắc Bộ và trung du miền núi phía Bắc Việt Nam. Trung tâm phát triển:
- Nó phổ biến nhất tại Hà Nội (với các chợ Đồng Xuân, Hàng Đào xưa), Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng, nơi các nghệ nhân biểu diễn rong và lưu truyền làn điệu.
- Hà Nội được coi là “đất thánh” của hát xẩm nhờ các phường hội và nỗ lực bảo tồn đương đại.
Đặc điểm của hát xẩm
Hát xẩm nổi bật với hình thức diễn xướng dân gian độc đáo, gắn liền với người mù nghèo khổ lang thang hát rong để mưu sinh ở chợ búa, gốc đa, sân đình Bắc Bộ.
Hình thức biểu diễn
Kết hợp hát nói tự sự, kể chuyện linh hoạt với cấu trúc dạo (đàn/phách), hát, xuyên tâm (đệm giữa câu), lưu không (kết thúc); sử dụng nhạc cụ đơn sơ như đàn bầu, đàn nhị, sênh tiền, phách.
Nghệ nhân thường hóa thân nhân vật hoặc đứng ngoài kể, tạo sắc thái đa dạng từ mạnh mẽ đến da diết.
Thể thơ và ngôn ngữ
Ca từ hát xẩm là thành phần cốt lõi, mang tính truyền miệng dân gian, không có tác giả cố định và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ ca dao, tục ngữ miền Bắc Việt Nam.
Chủ yếu dùng thơ lục bát, song thất lục bát biến thể, thêm tiếng láy, đệm để phù hợp giai điệu; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, giàu hình ảnh, dễ nhớ dễ thuộc.
Nghệ nhân linh hoạt sáng tạo ca từ tại chỗ, vừa hát vừa kể chuyện tự sự, tạo sự uyển chuyển giữa lời và nhạc.
Nội dung chính
Phản ánh đời sống lao động, tình yêu đôi lứa, than thân trách phận, hiếu nghĩa, phê phán thói hư tật xấu xã hội phong kiến; thường lạc quan dù bi kịch, kèm giáo dục đạo đức.
Ví dụ thơ Nguyễn Khuyến, Tản Đà được diễn ca, hoặc bài “Cô hàng nước” châm biếm, “Mặt nước cánh bèo” oán trách số phận phụ nữ.
Giá trị
Ca từ truyền miệng phong phú (thơ lục bát, song thất, ca dao), phản ánh đời sống lao động, tình yêu, hiếu nghĩa, phê phán xã hội phong kiến, bất công; mang tính nhân văn sâu sắc, lạc quan dù bi kịch.
Thuộc “trung ca” dung hòa dân gian – bác học, linh hoạt mượn làn điệu chèo, quan họ, ca trù.
Nhạc cụ hát xẩm
Nhạc cụ hát xẩm đơn giản, phù hợp hát rong, với bộ cơ bản nhất chỉ gồm đàn nhị và sênh; nhóm đông có thể thêm các loại khác.
Nhạc cụ chính
- Đàn nhị (đàn cò): Linh hồn hát xẩm, dây cung vĩ, âm thanh lớn, linh hoạt (cung vĩ liền, ngắt, rung); thay thế đàn bầu ban đầu vì nhỏ gọn, to tiếng phù hợp đám đông.
- Sênh: Đệm nhịp, gồm sênh sứa (hai thanh tre/gỗ) hoặc sênh tiền (gắn đồng tiền tạo tiếng xúc xắc); dùng với mõ tre cho âm bình dị.
- Phách (phách bàn): Giữ nhịp, đơn giản bằng gỗ.
Nhạc cụ phụ trợ
- Trống mảnh (trống xẩm), trống cơm, trống đơn, trống đế: Đệm nhịp mạnh.
- Đàn bầu, đàn đáy, đàn gáo (biến thể đàn nhị to hơn cho giọng trầm), sáo, thanh la: Dùng trong nhóm lớn hoặc biến tấu.
Bộ nhạc cụ nhấn mạnh tính di động, ngẫu hứng, hòa quyện chặt chẽ với giọng hát.
Phân loại hát xẩm
Hát xẩm được phân loại chi tiết theo tám làn điệu chính do nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ tổng kết, phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Theo đó hát xẩm được phân làm tám làn điệu chính như sau:
Xẩm chợ: Làn điệu mạnh mẽ, dùng hát rong chợ búa, đệm đàn bầu hoặc nhị, sênh phách; thể hiện sự nổi bật, trực tiếp.
- Chênh bong (Xẩm xoan): Dịu dàng, gần với hát xoan, thường kể chuyện tình cảm nhẹ nhàng.
- Riềm huê (Huê tình): Lãng mạn, tình tứ, ảnh hưởng từ ca trù, dùng trong xẩm cô đào hoặc nhà trò.
- Ba bực (Xẩm nhà trò): Phong cách thính phòng, tinh tế hơn, biểu diễn trong không gian riêng tư.
- Phồn huê (Nữ oán): Buồn bã, oán trách, phản ánh nỗi khổ phụ nữ phong kiến, ví dụ “Mặt nước cánh bèo lênh đênh”.
- Hò bốn mùa: Thô sơ, gần hát hò dân gian, mô tả lao động theo mùa vụ.
- Hát ai: U hoài, kể chuyện bi ai, gần với dân ca quan họ hoặc hát ví.
- Thập ân: Tri ân cha mẹ, kết hợp ru con và xẩm thương, mang tính giáo dục đạo đức.
Các làn điệu thuộc “trung ca”, kết hợp dân gian và bác học, linh hoạt mượn thêm trống quân, cò lả, quan họ; cấu trúc gồm dạo, hát, xuyên tâm, lưu không.
Những nghệ nhân hát xẩm nổi tiếng
Những nghệ nhân hát xẩm nổi tiếng nhất Việt Nam bao gồm các bậc thầy thế hệ trước và hiện đại, góp phần bảo tồn di sản này.
Nghệ nhân thế kỷ XX
- Hà Thị Cầu (1928-2013): “Báu vật nhân văn sống”, nghệ nhân cuối cùng giữ nhiều làn điệu cổ, hát rong từ 8 tuổi, được phong Nghệ sĩ ưu tú năm 2003.
- Thanh Ngoan: NSND, bậc thầy với các bài xẩm mẫu mực như “Cô Hàng Nước”.
- Xuân Hoạch: NSND, chuyên gia giảng dạy, tham gia các lớp truyền nghệ thuật xẩm.
- Thanh Hoài, Thúy Ngần: NSND, nổi bật với giọng hát đẳng cấp trong các tuyển tập xẩm kinh điển.
Nghệ sĩ đương đại
- Hà Myo (Nguyễn Thị Ngọc Hà): Thế hệ trẻ, đưa xẩm hiện đại hóa qua “Xẩm Hà Nội”, học từ NS Nguyễn Quang Long, được vinh danh gương mặt triển vọng 2021.
Những nghệ nhân này đã lưu giữ và truyền bá hát xẩm qua biểu diễn, ghi âm, dù loại hình ngày càng mai một.

Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu
Nghệ thuật hát xẩm ngày nay
Nghệ thuật hát xẩm ngày nay đang được phục hồi mạnh mẽ qua các hoạt động bảo tồn, biểu diễn đường phố và kết nối thế hệ trẻ tại Hà Nội và các tỉnh Bắc Bộ.
Hoạt động bảo tồn
- Các chương trình như “Xẩm đến trường”, “Xẩm du ca”, “Say Xẩm” đưa hát xẩm vào giảng đường, phố đi bộ, chợ truyền thống (như chợ Đồng Xuân), thu hút du khách và sinh viên; kết hợp nghệ sĩ trẻ như SOOBIN Hoàng Sơn để hiện đại hóa.
- Nhóm Xẩm 48h, Xẩm Hà Thành, Thăng Long Xẩm tổ chức biểu diễn mộc mạc trên chiếu cói, dạy nhạc cụ và kể chuyện nguồn gốc, giúp di sản tiếp cận giới trẻ giữa nhịp sống đô thị.
Thách thức và triển vọng
Dù mai một sau 1954 do định kiến xã hội, hát xẩm đang sống lại nhờ hồ sơ di sản quốc gia (Hà Nội đang hoàn thiện), lễ hội chào năm 2026 và sự kiện lan tỏa giá trị nhân văn.
Người trẻ tham gia sưu tầm, biểu diễn không sân khấu lớn, tạo “học văn hóa mở” gần gũi, bền vững.
Những bài hát xẩm nổi tiếng nhất
Những bài hát xẩm nổi tiếng nhất thường gắn với các nghệ nhân bậc thầy như NSND Thanh Ngoan, Hà Thị Cầu, Xuân Hoạch, được lưu giữ qua tuyển tập kinh điển. Top bài tiêu biểu hát xẩm là:
| Bài hát | Nghệ nhân nổi bật | Nội dung chính |
| Cô Hàng Nước | Thanh Ngoan, Xuân Hoạch | Châm biếm cô hàng nước lẳng lơ, cảnh chợ Đồng Xuân nhộn nhịp |
| Xẩm Thập Ân | Thanh Ngoan, Hà Thị Cầu | Tri ân công cha mẹ, giáo dục đạo đức gia đình |
| Lỡ Bước Sang Ngang | Thanh Ngoan | Than thân phận phụ nữ lấy chồng giàu có nhưng khổ sở |
| Chợ Đồng Xuân | Thanh Ngoan, Xuân Hoạch | Miêu tả phố phường Hà Thành xưa sôi động |
| Nghịch Cảnh | Thanh Ngoan | Kể chuyện bi kịch đời người nghèo khổ |
| Xẩm Huê Tình (Riềm Huê) | Thanh Ngoan | Lãng mạn tình yêu, da diết |
| Chênh Bông | Thanh Ngoan | Dịu dàng, gần hát xoan |
Ghi chú: Những bài này đại diện cho 8 làn điệu xẩm, phổ biến qua YouTube và đĩa nhạc, thường biểu diễn mộc với đàn nhị, sênh phách; “Cô Hàng Nước” và “Thập Ân” được coi là kinh điển nhất.
Trên đây là những thông tin nổi bật của hát xẩm là gì? Hát xẩm không chỉ là nghệ thuật mưu sinh mà còn là kho tàng phản ánh đời sống, đạo đức Việt Nam xưa; ngày nay, qua các nhóm như Xẩm 48h và nỗ lực bảo tồn, nó tiếp tục lan tỏa giá trị bền vững giữa thời đại hiện đại.

Add comment